NỘI DUNG WEBSITE

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phùng Hữu Kim Quân)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của Trường THCS Thủy Dương

    Trường THCS Thủy Dương- Thị xã Hương Thủy được thành lập năm 1976.Với bề dày truyền thống hơn 35 năm của đơn vị. Được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự ủng hộ của các lực lượng xã hội và nhân dân cùng với truyền thống hiếu học của các thế hệ học sinh nên đơn vị đã đạt nhiều thành tích xuất sắc.
    http://thcs-tduong.huongthuy.thuathienhue.edu.vn

    ô nhiễm nước ngầm

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Đỗ Minh Hải
    Ngày gửi: 15h:59' 19-10-2012
    Dung lượng: 1.5 MB
    Số lượt tải: 159
    Số lượt thích: 0 người
    Ô nhễm nước ngầm
    GVHD:
    SVTH: Đỗ Văn Hải
    Nguyễn Thế Anh
    Lớp: Công nghệ hoá1k5
    MỤC LỤC
    1. Các khái niệm liên quan
    Nước và vai trò của tài nguyên nước
    Khái niệm
    Nước ngầm và ô nhiễm nước ngầm
    1.1. Nước và vai trò của tài nguyên nước
    a. Sự phân bố nguồn nước trên Trái Đất
    Tổng lượng nước trên Trái Đất là rất lớn nhưng lượng nước ngọt mà con người có thể sử dụng được rất ít và chỉ có thể khai thác được từ các nguồn sau:
    Nước ngọt trên bề mặt đất:
    Sự phân bố của nước trên đất liền

    Lượng nước tự nhiên có 97% là nước mặn phân bổ ở biển và đại dương, 3% còn lại phân bố ở đất liền.

    Tiếng kêu cứu của nước ngầm
    Từ nhiều năm nay, tình trạng khoan giếng tràn lan đã và đang là nguy cơ gây ô nhiễm và phá huỷ nguồn tài nguyên nước ngầm. Hậu quả là những lỗ khoan lỗ chỗ không được lấp lại, các nguồn nước ngầm bị xâm hại vô tổ chức, gây ra hiện tượng thông tầng, một trong những nguyên nhân chính gây ra sự nhiễm bẩn cho nguồn nước sạch đồng thời gây nên hiện tượng sụp lún cho cấu trúc địa tầng
    Tầm quan trọng của nước
    Không có nước thì không có sự sống
    Vai trò của nước
    Cuộc sống trên Trái Đất bắt nguồn từ trong nước. Tất cả các sự sống trên Trái Đất đều phụ thuộc vào nước và vòng tuần hoàn nước:
    + Đối với các sinh vật sống trong nước thì nước chiếm 99% trọng lượng cơ thể.
    + Đối với con người nước chiếm 44% trọng lượng cơ thể. Con người có thể nhịn ăn hơn 1 tuần không bị chết nhưng nếu nhịn không uống nước 3 ngày thì có thể bị chết. Nước còn tham gia vào chu trình sống, phục vụ cho nhu cầu ăn, uống, tắm giặt… hàng ngày của con người.
    + Nếu thiếu nước thì mọi sản xuất ra của cải vật chất hầu như sẽ bị ngưng trệ. Người ta đã tính ra được rằng: Để sản xuất 1 tấn giấy phải dùng hết 250 tấn nước, sản xuất ra 1 tấn phân đạm phải cần 600 tấn nước, sản xuất 1 tấn chất bột phải cần 1.000 tấn nước.
    + Nước còn tham gia vào các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên, điều hòa khí hậu.
    Nước ngần và ô nhiễm nước ngầm
    Khái niệm nước ngầm
    Nước ngầm là chỉ loại nước chảy trong mạch kín ở dưới đất do các kiến tạo địa chất tạo nên, có thể là các túi nước liên thông nhau hoặc là mạch nước chảy sát với tầng đá mẹ
    Hình thành nước ngầm do nước trên bề mặt ngấm xuống, do không thể ngấm qua tầng đá mẹ nên trên nó nước sẽ tập trung trên bề mặt, tùy từng kiến tạo địa chất mà nó hình thành nên các hình dạng khác nhau
    nước ngầm có nguồn gốc nội sinh
    b. Ô nhiễm nước ngầm
    “Ô nhiễm nước (gồm nước mặt và nước ngầm) là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học – sinh học của nước trên giới hạn cho phép, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại cho hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước”.
    Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã".



    Nguyên nhân
    Các tác nhân tự nhiên như nhiễm mặn, nhiễm phèn, hàm lượng Fe, Mn và một số kim loại khác.
    Các tác nhân nhân tạo như nồng độ kim loại nặng cao, hàm lượng NO-3, NO-2, NH4+, PO4 v.v... vượt tiêu chuẩn cho phép, ô nhiễm bởi vi sinh vật
    Dấu hiệu đặc trưng của nguồn nước bị ô nhiễm
    - Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và các cặn lắng chìm xuống đáy nguồn.
    - Thay đổi tính chất lý học (độ trong, màu, mùi, nhiệt độ…)
    -   Thay đổi thành phần hoá học (pH, hàm lượng của các chất hữu cơ và vô cơ, xuất hiện các chất độc hại…)
    -  Lượng oxy hoà tan (DO) trong nước giảm do các quá trình sinh hoá để oxy hoá các chất bẩn hữu cơ vừa mới thải vào.
    -  Các vi sinh vật thay đổi về loài và về số lượng. Có xuất hiện các vi trùng gây bệnh.
    Nguồn nước bị ô nhiễm có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thuỷ sinh vật và việc sử dụng nguồn nước vào mục đích cấp nước hoặc mỹ quan của thành phố.
    Giá trị giới hạn cho phép của các thông số và nồng độ các chất ô nhiễm trong nước ngầm
    Hiện trạng ô nhiễm nước ngầm trên thế giới

    - Bản chất của quá trình đô thị hóa là gắn với sự phát triển của công nghiệp. Hiện nay quá trình đô thị hóa trên thế giới diễn ra với tốc độ rất nhanh, đã có khoảng 48% dân số sống ở các đô thị. Vấn đề ô nhiễm nguồn nước nói chung, nước ngầm nói riêng ngày càng trở nên trầm trọng. So với các vùng nông thôn, ô nhiễm nước ngầm ở các đô thị nặng hơn nhiều.
    - Sự di chuyển của nước ngầm rất chậm nên sự nhiễm chất độc có thời gian tích tụ rất dài, thậm chí sau nhiều năm mới thâm nhập vào nguồn nước ăn. Khi nguồn nước mặt ở nhiều đô thị bị ô nhiễm sẽ lắng đọng xuống đất và làm cho nguồn nước ngầm bị ô nhiễm. Nói cách khác ô nhiễm nước ngầm diễn ra chậm hơn so với ô nhiễm nước mặt.


    Cuối thế kỷ 18, các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi ở Pháp không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5.000 km sông của Pháp bị ô nhiễm mãn tính.
    Vùng Đại hồ ở Hoa Kỳ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt nghiêm trọng.
    Nguồn nước ngầm tại 90% thành phố của Trung Quốc đang bị ô nhiễm bởi các chất ô nhiễm hữu cơ và vô cơ theo thông báo của hãng tin Tân Hoa Xã dẫn nguồn từ Ủy ban bảo vệ môi trường Trung Quốc.
    Tại Vapi (Ấn Độ)
    Những người dân sống ở thành phố Vapi, cái giá của phát triển thực sự đắt: Nồng độ thủy ngân trong nước ngầm của đô thị này cao gấp 96 lần so với tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), còn các kim loại nặng hiện diện trong không khí và cả nông sản.

    Tình trạng ô nhiễm nước ngầm hiện nay ở vn
    Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường, qua kiểm tra các mẫu nước ngầm được lấy tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh cho thấy, tình trạng ô nhiễm nước ngầm đang lan rộng. Nguyên nhân gây ra tình trạng này là do các giếng đào, các điểm khoan khai thác nước không khoanh vùng bảo vệ, làm cho toàn bộ nước mặt đã nhiễm bẩn tràn xuống, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm
    Con số thống kê
    Khảo sát 152 mẫu nước giếng đào, khoan tại 27 xã thị trấn của 2 huyện Vĩnh Tường và Yên lạc đã phát hiện 37 mẫu có hàm lượng asen cao hơn tiêu chuẩn cho phép, trong đó có 22 mẫu vượt quá mức 0,05mg/lít
    ở 2 huyện Tam Đảo và Sông Lô cũng bị ô nhiễm kim loại nặng, trong đó chủ yếu là sắt và mangan. Riêng nồng độ mangan ở 2 huyện này vượt quy chuẩn Việt Nam 09:2008/BTNMT tương đối cao (mức độ vượt từ 1,1 đến 8,4 lần).


    Hậu quả

    - Nguồn nước ngầm bị ô nhiễm có thể làm ảnh hưởng lớn đến đời sống của người và các sinh vật. Khi con người sử dụng nguồn nước ngầm chưa qua xử lý (nước giếng khoan), nước ngầm bị ô nhiễm làm nước sinh hoạt làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về đường ruột. Các loại kim loại nặng ở trong nước có thể gây ung thư. Một số chất độc tồn tại trong nước ngầm có thể gây ra đột biến gen, giảm trí thông minh,..
    - Nguồn nước ngầm bị ô nhiễm có thể ảnh hưởng tới cây trrồng vật nuôi khi con người sử dụng làm nước tưới, nhất là trong mùa khô. Cây trồng, vật nuôi có thể bị mắc bệnh làm cho sự phát triển chậm, nặng hơn có thể chêt. Từ đó ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất và nguồn thức ăn của con người. Thức ăn có thể tồn dư những chất độc hại.

    + Tai nạn ở Vịnh Minamata ở Nhật bản là một thí dụ đáng buồn. Hàng trăm người chết và hàng ngàn người bị nhiễm độc nặng do ăn phải cá và các động vật biển khác đã bị nhiễm thủy ngân do nhà máy này thải ra.
    + Cây trồng chỉ sử dụng được khoảng 30 – 40% lương phân bón, lượng dư thừa sẽ vào các dòng nước mặt hoặc nước ngầm, sẽ gây hiện tượng phì nhiêu hoá sông hồ, gây yếm khí ở các lớp nước ở dưới.


    ở ấn độ
    Một số người dân tại Sukinda lấy nước ở một giếng, nơi nước ngầm bị nhiễm độc nặng.

    Tại Việt Nam
    Người dân phải sống chung với nước bẩn
    Giải pháp
    -Hạn chế tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm phải làm song song. Những khu vực bị ô nhiễm nguồn nước mặt cục bộ phải có phương án xử lý tránh thẩm thấu xuống nước ngầm.
    - Áp dụng luật môi trường nước. Chú trọng công tác quản lý, đánh giá và quy hoạch tài nguyên nước ngầm. Xử phạt hành chính những doanh nghiệp vi phạm khai thác nguồn nước ngầm. Quy định và hướng dẫn trám lấp lỗ khoan.
    - Cung cấp nước sạch đủ và rẻ cho người dân sử dụng. Khuyên cáo người dân không dùng nước ngầm chưa qua xử lý.
    - Trong khu vực đô thị, hạn chế các xí nghiệp sản xuất gây ô nhiễm môi trường. Hệ thống nước thải sinh hoạt, sản xuất phải được qua xử lý trước khi đổ vào môi trường.
    - Tổ chức hội thảo bàn về giải pháp tái tạo nguồn nước
    - Giáo dục ý thức cộng đồng địa phương bảo vệ môi trường.
    Cách thức sử lý nước bẩn
    1) Giải pháp giảm thiểu và xử lý nhiễm độc Arsen trong nước
    dùng bể lọc cát loại bỏ sắt và As; Sử dụng nước giếng khoan có tăng cường làm thoáng; Thiết bị lọc As quy mô hộ gia đình; bổ sung vật liệu lọc As khi dùng nước giếng khoan ít sắt. Công nghệ xử lý As trong nước ngầm là keo tụ bằng hóa chất: sử dụng mạt sắt kết hợp với cát, Hydroxyt sắt, dùng nhôm hoạt hóa hoặc phương pháp trao đổi Ion, Oxy quang hóa, công nghệ lọc màng... Trong đó, có 2 phương pháp hợp lý nhất là tăng cường làm thoáng nước dưới đất trước khi đưa vào sử dụng và sử dụng thiết bị lọc As quy mô hộ gia đình. áp dụng cho vùng chưa có điều kiện xây dựng trạm cấp nước tập trung. Các khoáng limonit cát đen chứa mangan, apatit có thể nạp vào thiết bị lọc kích thước nhỏ để làm sạch As ở hộ gia đình


    2) Phương pháp vật lý và vi sinh
    Xử lý nước ngầm bằng phương pháp cơ học
    Nước từ nguồn được bơm cấp 1 phun qua giàn mưa thành những tia nhỏ để ôxy của không khí tác dụng với Fe2+ thành Fe3+. Nước dàn mưa được dẫn đi lắng lọc ở các bể lọc chứa chất lọc (cát, đá, than hoạt tính…)
    Trên thế giới hiện nay phương pháp xử lý nước bằng vi sinh đang được nghiên cứu và có một số nơi đã áp dụng. Trong phương pháp này một số chủng loại vi sinh đặc biệt đã được nuôi cấy và được đưa vào trong quá trìng xử lý nước với liều lượng rất nhỏ nhưng đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên cho đến nay những kết quả nghiên cứu của phương pháp này chưa được công bố rộng rãi
    Sử lý nước bằng vật lý
    Làm thoáng
    Quá trình lắng
    Quá trình lọc
    Phương pháp hoá học và hoá lý
    Clo hoá sơ bộ
    Quá trình khuấy trộn hoá chất
    Quá trinh keo tủa và phản úng tạo bông cặn
    Hấp thụ và hấp phụ bằng than
    Flo hoá nước
    Khử trùng nước
    ổn dịnh nước
    Làm mềm nước
    Khử muối

    Bản đồ nước ngầm trên thế giới
    Nhà máy lọc nước
    Vì 1 thế giới tốt đẹp
    The end!!!!!!!
    Thank you very much!!!!!!
     
    Gửi ý kiến